Văn hoá là động lực tăng trưởng mới của ngành du lịch

Vitea
a1-0120260301235337-1772693423.png
 

Tại Diễn đàn Du lịch Đông Nam Á (ATF 2026) diễn ra cuối tháng 1 tại Cebu (Philippines), Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ An Phong đã khẳng định, chiến lược cốt lõi của du lịch Việt Nam trong những năm gần đây là lấy văn hóa làm nền tảng. Thay vì chạy theo số lượng, ngành du lịch sẽ tập trung vào chất lượng và hiệu quả bền vững bằng cách xây dựng các sản phẩm du lịch chất lượng cao dựa trên nền tảng văn hóa, đẩy mạnh phát triển hạ tầng và phát triển các điểm đến mới hấp dẫn.

“Văn hóa là sự khác biệt, Việt Nam có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc hàng nghìn năm lịch sử. Chúng tôi xây dựng sản phẩm du lịch cao cấp chất lượng cao dựa trên nền tảng văn hóa của con người, ẩm thực và thiên nhiên,” Thứ trưởng Hồ An Phong nói.

Theo ông, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực ASEAN, đồng thời lựa chọn con đường phát triển vừa tương đồng vừa khác biệt để tạo sức hút riêng. Những mô hình tiêu biểu có thể tham khảo gồm du lịch biển của Bali, du lịch sinh thái của Chiang Mai, cách làm thị trường khách của Singapore hay du lịch cộng đồng tại Philippines, Campuchia và Lào. Song song với đó, Việt Nam cũng đang thúc đẩy phát triển các sản phẩm lữ hành liên kết chuỗi điểm đến Đông Nam Á, mở rộng không gian trải nghiệm cho du khách quốc tế.

Định hướng phát triển này được củng cố trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 7/1/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam, trong đó xác định rõ phát triển văn hoá và con người vừa là nền tảng, vừa là nguồn động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Nghị quyết đặt ra yêu cầu nghiên cứu, định giá tổng giá trị kinh tế của văn hoá, xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam trên phạm vi toàn cầu, biến di sản thành tài sản và hình thành mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” tại các khu di sản thế giới cũng như một số đô thị di sản.

Trước đó, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, được phê duyệt theo Quyết định số 1755/QD-TTg ngày 8/9/2016, đã xác định du lịch văn hoá là một trong 13 ngành công nghiệp văn hoá trọng điểm, với mục tiêu đến năm 2030 đóng góp 15-20% trong tổng doanh thu dự kiến khoảng $40 tỷ từ hoạt động du lịch.

Theo GS.TS Đào Mạnh Hùng, Chủ tịch Liên Chi hội Đào tạo Du lịch Việt Nam thuộc Hiệp hội Du lịch Việt Nam, du lịch và công nghiệp văn hoá có mối quan hệ cộng hưởng chặt chẽ. Du lịch là kênh quảng bá hiệu quả nhất cho công nghiệp văn hoá, trong khi công nghiệp văn hoá lại cung cấp cho du lịch những sản phẩm độc đáo, giàu bản sắc, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến.

“Việt Nam đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030, trong đó du lịch văn hóa được xác định là trụ cột quan trọng,” GS.TS Hùng nhấn mạnh.

Thực tế, nhiều sản phẩm du lịch văn hoá của Việt Nam đã tạo được dấu ấn rõ nét trên thị trường quốc tế. Những điểm đến như Vịnh Hạ Long, Tràng An, Cố đô Huế hay Phố cổ Hội An không chỉ hấp dẫn bởi cảnh quan và chiều sâu lịch sử, mà còn là không gian kết tinh các giá trị văn hoá đặc sắc. Các chương trình nghệ thuật thực cảnh như “Ký ức Hội An”, “Tinh hoa Bắc Bộ”, nghệ thuật múa rối nước hay các tour du lịch làng nghề ngày càng được du khách quốc tế ưa chuộng.

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp khác đang tập trung phát triển các tour du lịch sinh thái và du lịch thiên nhiên tại các điểm đến trọng điểm như Vịnh Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Hội An và Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Giang. Các sản phẩm này không chỉ tập trung vào tham quan và giải trí mà còn kết hợp các hoạt động giúp du khách hiểu sâu hơn về môi trường, văn hóa địa phương và đời sống cộng đồng.

Theo ông Cao Trí Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng, các doanh nghiệp du lịch hiện đang hướng tới việc khai thác sâu hơn nhu cầu về trải nghiệm cá nhân hóa và các yêu cầu chuyên biệt của phân khúc du lịch cao cấp. Các trung tâm du lịch lớn như Đà Nẵng, Nha Trang và Phú Quốc đang dẫn đầu trong việc phát triển hệ sinh thái các sản phẩm du lịch cao cấp và siêu cao cấp gắn liền với bản sắc văn hóa địa phương.

“Đầu tư vào các sản phẩm ngách như du lịch sự kiện, đám cưới sang trọng và các khu nghỉ dưỡng kết hợp văn hóa bản địa là giải pháp then chốt để kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu của du khách”, ông Dũng nói thêm.

Tuy nhiên, theo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, quy mô thị trường văn hoá sáng tạo của Việt Nam hiện mới chiếm khoảng 4% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 7-10% của nhiều quốc gia trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thiếu hụt hạ tầng sáng tạo, cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và phát triển thị trường lao động sáng tạo.

“Ở nhiều địa phương, chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá chưa được xây dựng một cách bài bản, công tác quy hoạch, đào tạo nhân lực và liên kết vùng vẫn còn hạn chế,” Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ An Phong nói.

Để khắc phục những điểm nghẽn này, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ tu bổ, tôn tạo ít nhất 80% di tích quốc gia đặc biệt, tương đương khoảng 120 di tích, và khoảng 40% di tích quốc gia, tương đương gần 1.500 di tích. Đồng thời, 100% di sản văn hoá phi vật thể trong Danh mục quốc gia và các danh sách của UNESCO sẽ có đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị, gắn với việc xây dựng không gian, công cụ và hạ tầng phục vụ thực hành, trình diễn, giới thiệu và truyền dạy di sản trong cộng đồng.

Bước sang năm 2026, ngành du lịch đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, 150 triệu lượt khách nội địa và đạt doanh thu khoảng $45 tỷ. Trong bức tranh đó, du lịch văn hoá được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, góp phần nâng cao giá trị điểm đến và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới.

ĐĂNG KÝ HỘI VIÊN